Super News Online
Great News Magazine
http://www.creeknews.net
www.funbeauty.net
browse this site
read this article
find this
original site
Homepage
my response

Thư viện
Diễn đàn
Hộp Thư CBGV
Hộp Thư SV
Lịch Tuần
Giáo trình tài liệu

Thư viện
Diễn đàn
Hộp Thư CBGV
Hộp Thư SV
Lịch Tuần
Giáo trình tài liệu

Ngay sau khi thành lập Trường Đại học Thủy lợi, 1959, nhà trường đã đào tạo ngành thủy nông.  Năm 1966, khi trường bắt đầu thành lập các khoa, Khoa Thuỷ nông (tên gọi cũ của Khoa Kỹ thuật tài nguyên nuớc ngày nay) chính là một trong ba khoa đầu tiên của Trường Đại học Thủy lợi.

            Khi thành lập, Khoa quản lý các bộ môn Thuỷ nông, Thuỷ văn, Kinh tế, Trạm bơm, Thuỷ Lực, Toán 2, Cơ lý thuyết 2, Ngoại ngữ, Trắc địa, Hoá học, Thổ nhưỡng. Nhiệm vụ của Khoa là đào tạo kỹ sư Thuỷ nông để quy hoạch, thiết kế và quản lý các hệ thống tưới tiêu phục vụ cho phát triển nông nghiệp. Số lượng giáo viên trong Khoa khi mới thành lập chỉ có trên 20 người nhưng phải phụ trách giảng dạy nhiều môn học cho ngành Thuỷ nông và các ngành khác trong trường. Hầu hết giáo viên trong Khoa còn trẻ vừa mới được đào tạo ở trong nước, chỉ một số người được qua thực tập và kiến tập ở nước ngoài từ 1 đến 2 năm, một số ít được đào tạo đại học ở Trung Quốc và Liên Xô cũ. Đội ngũ giáo viên trong Khoa tuy còn non trẻ nhưng đã có những cố gắng vượt bậc và đã nhanh chóng thay thế được các chuyên gia nước ngoài mà lúc đầu chúng ta phải mời tới trường giảng dạy.

            Trong điều kiện giáo trình, tài liệu, trang thiết bị cho giảng dạy học tập, thí nghiệm... còn thiếu thốn, nhưng cả thầy và trò đã nỗ lực để vượt qua mọi khó khăn của buổi ban đầu. Những khoá kỹ sư Thuỷ nông đầu tiên đã lần lượt tốt nghiệp ra trường, đáp ứng kịp thời yêu cầu cán bộ kỹ thuật của ngành Thuỷ lợi trong cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc.

            Năm 1965, nhà trường phải sơ tán đến nơi ở mới. Thầy trò phải tự làm lớp học, nơi ăn ở và các phương tiện giảng dạy, học tập. Trong điều kiện thời chiến hết sức khó khăn, toàn bộ giáo viên và sinh viên trong Khoa đã phát huy tinh thần tự lực, tự cường, xây dựng Khoa không ngừng lớn mạnh. Một số giáo viên trong Khoa được cử đi các nước XHCN để đào tạo nâng cao trình độ. Những sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi được giữ lại trường để bổ sung vào các bộ môn. Số lượng sinh viên tuyển vào hàng năm cũng không ngừng tăng thêm; nếu như từ khoá 2 đến khoá 5 mỗi khoá chỉ có 40 -50 sinh viên, thì đến khoá 6, khoá 7, số sinh viên đã lên tới 100 -200 người.

            Một số giáo trình, bài giảng được biên soạn và xuất bản, như các giáo trình: Thuỷ nông, Thuỷ lực, Máy bơm và Trạm bơm, Thổ nhưỡng, Trồng trọt, Trắc địa... Giáo trình, giáo án được sửa chữa, bổ sung kịp thời và phù hợp với thực tế Việt Nam. Đây là một bước chuyển biến lớn trong việc "Việt Nam hoá" nội dung các môn học. Các quy trình, lịch trình giảng dạy dần dần được tiêu chuẩn hoá và đi vào ổn định. Giáo viên trong Khoa còn chủ trì hoặc tham gia biên soạn các tài liệu về quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật trong ngành theo yêu cầu của Bộ.

            Thầy trò Khoa Thuỷ nông là một trong những người đầu tiên thực hiện phương châm "học đi đôi với hành, gắn đào tạo với phục vụ sản xuất" một cách tích cực nhất. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng các bộ môn chuyên môn đã đưa sinh viên về các địa phương để thực tập môn học, vừa làm công tác đào tạo vừa phục vụ sản xuất. Bộ môn Trắc địa giúp các địa phương thành lập các loại bản đồ địa hình phục vụ cho công tác xây dựng thuỷ lợi ở các tỉnh Ninh Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên... Các bộ môn Thuỷ nông, Trạm bơm, Thuỷ lực đưa sinh viên đến các hệ thống thuỷ lợi làm đồ án tốt nghiệp, đồng thời giúp địa phương đánh giá hiện trạng, quy hoạch cải tiến và quy hoạch xây dựng những hệ thống thuỷ lợi mới, như: quy hoạch hệ thống nhiều hồ chứa ở dãy núi Bảo Đài tỉnh Bắc Giang, quy hoạch cải tiến hệ thống Cấm Sơn - Cầu sơn, hệ thống Sông Cầu, hệ thống Trịnh Xá, hệ thống Liễn Sơn - Bạch Hạc, quy hoạch thuỷ lợi tổng thể cho các huyện như: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm (TP Hà Nội), An Hải, Thuỷ Nguyên, Kiến Thuỵ, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng (TP Hải Phòng), Đông Hưng, Hưng Hà (tỉnh Thái Bình).... Đặc biệt một số giáo viên ở bộ môn Thuỷ nông đưa sinh viên khoá 7 vào tuyến lửa Quảng Bình để quy hoạch thuỷ lợi cho huyện Lệ Thuỷ theo yêu cầu của địa phương trong hoàn cảnh bom đạn ác liệt.

            Khoa Thuỷ nông đã cùng với Trường Đại học Thuỷ lợi đóng góp một cách xứng đáng vào sự nghiệp đào tạo cho đất nước những cán bộ kỹ thuật thuỷ lợi có chất lượng tốt để phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ỏ miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

            Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế cấp bách của các tỉnh phía nam vừa được giải phóng. Hàng trăm sinh viên Khoa Thuỷ nông thuộc các khoá 12, 13 sắp tốt nghiệp lập tức cùng các thầy giáo, cô giáo trong Khoa lên đường để giúp các tỉnh Trung bộ và Nam bộ đánh giá hiện trạng, quy hoạch thiết kế khôi phục các hệ thống thuỷ lợi ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Biên Hoà, Bình Long, Phước Long, TP Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Cửu Long, Hậu Giang, Minh Hải... Hầu như khắp các tỉnh phía nam đều có dấu chân của thầy trò Khoa Thuỷ nông. Các dự án khôi phục, cải tiến và quy hoạch hệ thống thuỷ lợi mới ra đời như: quy hoạch thuỷ lợi vùng Tứ giác Long Xuyên, dự án thuỷ lợi Nam Măng Thít, quy hoạch thuỷ lợi tổng thể cho các huyện, các tỉnh lần lượt được thiết lập.

            Trong khi một lực lượng giáo viên phải đưa sinh viên đi phục vụ các tỉnh phía Nam, một số bộ môn lại phải tách khỏi Khoa Thuỷ nông để thành lập các bộ phận mới của trường. Tuy chỉ còn lại một số bộ môn chuyên ngành, nhưng chất lượng chuyên môn của các bộ môn được tăng lên rõ rệt. Nhiều tiến sĩ, tiến sĩ được đào tạo từ nước ngoài trở về trường bổ sung vào các bộ môn trong Khoa. Số lượng sinh viên của Khoa cũng tăng dần trong những năm sau giải phóng. Ngoài sinh viên tuyển hàng năm còn phải đào tạo tiếp cho những sinh viên cũ của trường trong thời gian chiến tranh phải lên đường nhập ngũ nay lại trở về trường tiếp tục học tập.

            Từ năm 1986 đến nay là giai đoạn phát triển của khoa về quy mô và số chuyên ngành đào tạo. Đến năm 1990, do nhận thấy tầm qua trọng của việc cải tạo các vùng đất và các loại đất đặc biệt như: đất mặn, đất phèn, đất xói mòn, bạc màu... phục vụ cho thâm canh và mở rộng diện tích nông lâm nghiệp ở nước ta, Khoa được mở thêm chuyên ngành Cải tạo đất và Khoa được đổi tên thành khoa "Thuỷ nông cải tạo đất".

            Qua nhiều giai đoạn phát triển, quy mô đào được mở rộng, số ngành và chuyên ngành đào tạo được tăng thêm, mục tiêu đào tạo được điều chỉnh cho phù hợp hơn với yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong các lĩnh vực liên quan. Thực hiện phương châm đào tạo đa ngành của Trường, năm 2001, Khoa đã mở thêm ngành Cấp thoát nước. Năm 2002 Khoa được đổi tên thành: "Khoa quy hoạch và quản lý hệ thống công trình".  Năm 2006 Khoa được đổi tên thành: “Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước”.  Năm 2007 Khoa mở thêm ngành Kỹ thuật hạ tầng và phát triển nông thôn.

 Đến nay, số lượng tuyển sinh hàng năm vào hệ chính quy ở các ngành trong Khoa là 300 sinh viên tại Hà Nội và 150 sinh viên tại Cơ sở 2 ở TP Hồ Chí Minh.  Số người học có mặt thường xuyên hiện nay ở Khoa lên tới 2800 sinh viên, trong đó đại học chính quy là 2100 sinh viên, đại học vừa học vừa  làm là 650 sinh viên, cao học và nghiên cứu sinh là 130 học viên. 

            Trong năm cuối của thập niên 80 thế kỷ trước, do yêu cầu của xã hội, Khoa được giao thêm nhiệm vụ mới là đào tạo những kỹ sư thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi, mà hầu hết là con em đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa. Tới nay đã có trên 450 sinh viên hệ cử tuyển do Khoa phụ trách đào tạo đã ra trường được đưa về các tỉnh miền núi công tác.

Với tấm lòng của người thầy hết lòng vì sinh viên thân yêu, nhiều thầy giáo đã không tiếc công sức bồi dưỡng cho sinh viên để dự thi Olympic môn Thuỷ lực, nghiên cứu khoa học, thi đồ án tốt nghiệp xuất sắc. Sinh viên của Khoa đã giành được nhiều giải cao trong các cuộc thi này.

Song song với công tác giảng dạy, các thầy cô giáo trong Khoa đã tích cực thamgia các hoạt động công nghệ và nghiên cứu khoa học. Nhiều dự án thuỷ lợi lớn như: Trạm bơm tiêu Đặng Xá, Hệ thống tiêu Bắc Đông Anh, Hệ thống tưới hồ sông Rác, Hệ thống tưới hồ Gò Miếu, Trạm bơm Hữu Bị 2, Trạm bơm Yên Tôn, Trạm bơmThiệu Duy, trạm bơm Cầu Khải và hàng trăm công trình đê, kè, thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, tái định cư... được các giáo viên trong Khoa làm chủ nhiệm và trực tiếp tham gia. Nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp cơ sở đã và đang được các thầy cô giáo trong Khoa trực tiếp làm chủ nhiệm hoặc tham gia thực hiện. Các đề tài này đã và đang đóng góp một phần  không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Với các thành tích đã được trong chặng đường phát triển gần năm mươi năm của Khoa, thầy và trò Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước quyết tâm  phấn đấu không ngừng, phát huy các thành tích đã đạt được của Khoa và tạo nên các thành tích mới về giảng dạy,học tập, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất để xứng đáng là một trong các khoa đầu ngành của trường Đại học Thủy lợi.

Ngay sau khi thành lập Trường Đại học Thủy lợi, 1959, nhà trường đã đào tạo ngành thủy nông.  Năm 1966, khi trường bắt đầu thành lập các khoa, Khoa Thuỷ nông (tên gọi cũ của Khoa Kỹ thuật tài nguyên nuớc ngày nay) chính là một trong ba khoa đầu tiên của Trường Đại học Thủy lợi.

            Khi thành lập, Khoa quản lý các bộ môn Thuỷ nông, Thuỷ văn, Kinh tế, Trạm bơm, Thuỷ Lực, Toán 2, Cơ lý thuyết 2, Ngoại ngữ, Trắc địa, Hoá học, Thổ nhưỡng. Nhiệm vụ của Khoa là đào tạo kỹ sư Thuỷ nông để quy hoạch, thiết kế và quản lý các hệ thống tưới tiêu phục vụ cho phát triển nông nghiệp. Số lượng giáo viên trong Khoa khi mới thành lập chỉ có trên 20 người nhưng phải phụ trách giảng dạy nhiều môn học cho ngành Thuỷ nông và các ngành khác trong trường. Hầu hết giáo viên trong Khoa còn trẻ vừa mới được đào tạo ở trong nước, chỉ một số người được qua thực tập và kiến tập ở nước ngoài từ 1 đến 2 năm, một số ít được đào tạo đại học ở Trung Quốc và Liên Xô cũ. Đội ngũ giáo viên trong Khoa tuy còn non trẻ nhưng đã có những cố gắng vượt bậc và đã nhanh chóng thay thế được các chuyên gia nước ngoài mà lúc đầu chúng ta phải mời tới trường giảng dạy.

            Trong điều kiện giáo trình, tài liệu, trang thiết bị cho giảng dạy học tập, thí nghiệm... còn thiếu thốn, nhưng cả thầy và trò đã nỗ lực để vượt qua mọi khó khăn của buổi ban đầu. Những khoá kỹ sư Thuỷ nông đầu tiên đã lần lượt tốt nghiệp ra trường, đáp ứng kịp thời yêu cầu cán bộ kỹ thuật của ngành Thuỷ lợi trong cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc.

            Năm 1965, nhà trường phải sơ tán đến nơi ở mới. Thầy trò phải tự làm lớp học, nơi ăn ở và các phương tiện giảng dạy, học tập. Trong điều kiện thời chiến hết sức khó khăn, toàn bộ giáo viên và sinh viên trong Khoa đã phát huy tinh thần tự lực, tự cường, xây dựng Khoa không ngừng lớn mạnh. Một số giáo viên trong Khoa được cử đi các nước XHCN để đào tạo nâng cao trình độ. Những sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi được giữ lại trường để bổ sung vào các bộ môn. Số lượng sinh viên tuyển vào hàng năm cũng không ngừng tăng thêm; nếu như từ khoá 2 đến khoá 5 mỗi khoá chỉ có 40 -50 sinh viên, thì đến khoá 6, khoá 7, số sinh viên đã lên tới 100 -200 người.

            Một số giáo trình, bài giảng được biên soạn và xuất bản, như các giáo trình: Thuỷ nông, Thuỷ lực, Máy bơm và Trạm bơm, Thổ nhưỡng, Trồng trọt, Trắc địa... Giáo trình, giáo án được sửa chữa, bổ sung kịp thời và phù hợp với thực tế Việt Nam. Đây là một bước chuyển biến lớn trong việc "Việt Nam hoá" nội dung các môn học. Các quy trình, lịch trình giảng dạy dần dần được tiêu chuẩn hoá và đi vào ổn định. Giáo viên trong Khoa còn chủ trì hoặc tham gia biên soạn các tài liệu về quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn, chỉ dẫn kỹ thuật trong ngành theo yêu cầu của Bộ.

            Thầy trò Khoa Thuỷ nông là một trong những người đầu tiên thực hiện phương châm "học đi đôi với hành, gắn đào tạo với phục vụ sản xuất" một cách tích cực nhất. Mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh nhưng các bộ môn chuyên môn đã đưa sinh viên về các địa phương để thực tập môn học, vừa làm công tác đào tạo vừa phục vụ sản xuất. Bộ môn Trắc địa giúp các địa phương thành lập các loại bản đồ địa hình phục vụ cho công tác xây dựng thuỷ lợi ở các tỉnh Ninh Bình, Hải Phòng, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên... Các bộ môn Thuỷ nông, Trạm bơm, Thuỷ lực đưa sinh viên đến các hệ thống thuỷ lợi làm đồ án tốt nghiệp, đồng thời giúp địa phương đánh giá hiện trạng, quy hoạch cải tiến và quy hoạch xây dựng những hệ thống thuỷ lợi mới, như: quy hoạch hệ thống nhiều hồ chứa ở dãy núi Bảo Đài tỉnh Bắc Giang, quy hoạch cải tiến hệ thống Cấm Sơn - Cầu sơn, hệ thống Sông Cầu, hệ thống Trịnh Xá, hệ thống Liễn Sơn - Bạch Hạc, quy hoạch thuỷ lợi tổng thể cho các huyện như: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Trì, Từ Liêm (TP Hà Nội), An Hải, Thuỷ Nguyên, Kiến Thuỵ, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng (TP Hải Phòng), Đông Hưng, Hưng Hà (tỉnh Thái Bình).... Đặc biệt một số giáo viên ở bộ môn Thuỷ nông đưa sinh viên khoá 7 vào tuyến lửa Quảng Bình để quy hoạch thuỷ lợi cho huyện Lệ Thuỷ theo yêu cầu của địa phương trong hoàn cảnh bom đạn ác liệt.

            Khoa Thuỷ nông đã cùng với Trường Đại học Thuỷ lợi đóng góp một cách xứng đáng vào sự nghiệp đào tạo cho đất nước những cán bộ kỹ thuật thuỷ lợi có chất lượng tốt để phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ỏ miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

            Năm 1975, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, để đáp ứng yêu cầu khôi phục kinh tế cấp bách của các tỉnh phía nam vừa được giải phóng. Hàng trăm sinh viên Khoa Thuỷ nông thuộc các khoá 12, 13 sắp tốt nghiệp lập tức cùng các thầy giáo, cô giáo trong Khoa lên đường để giúp các tỉnh Trung bộ và Nam bộ đánh giá hiện trạng, quy hoạch thiết kế khôi phục các hệ thống thuỷ lợi ở các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Biên Hoà, Bình Long, Phước Long, TP Hồ Chí Minh, Long An, Bến Tre, Cửu Long, Hậu Giang, Minh Hải... Hầu như khắp các tỉnh phía nam đều có dấu chân của thầy trò Khoa Thuỷ nông. Các dự án khôi phục, cải tiến và quy hoạch hệ thống thuỷ lợi mới ra đời như: quy hoạch thuỷ lợi vùng Tứ giác Long Xuyên, dự án thuỷ lợi Nam Măng Thít, quy hoạch thuỷ lợi tổng thể cho các huyện, các tỉnh lần lượt được thiết lập.

            Trong khi một lực lượng giáo viên phải đưa sinh viên đi phục vụ các tỉnh phía Nam, một số bộ môn lại phải tách khỏi Khoa Thuỷ nông để thành lập các bộ phận mới của trường. Tuy chỉ còn lại một số bộ môn chuyên ngành, nhưng chất lượng chuyên môn của các bộ môn được tăng lên rõ rệt. Nhiều tiến sĩ, tiến sĩ được đào tạo từ nước ngoài trở về trường bổ sung vào các bộ môn trong Khoa. Số lượng sinh viên của Khoa cũng tăng dần trong những năm sau giải phóng. Ngoài sinh viên tuyển hàng năm còn phải đào tạo tiếp cho những sinh viên cũ của trường trong thời gian chiến tranh phải lên đường nhập ngũ nay lại trở về trường tiếp tục học tập.

            Từ năm 1986 đến nay là giai đoạn phát triển của khoa về quy mô và số chuyên ngành đào tạo. Đến năm 1990, do nhận thấy tầm qua trọng của việc cải tạo các vùng đất và các loại đất đặc biệt như: đất mặn, đất phèn, đất xói mòn, bạc màu... phục vụ cho thâm canh và mở rộng diện tích nông lâm nghiệp ở nước ta, Khoa được mở thêm chuyên ngành Cải tạo đất và Khoa được đổi tên thành khoa "Thuỷ nông cải tạo đất".

            Qua nhiều giai đoạn phát triển, quy mô đào được mở rộng, số ngành và chuyên ngành đào tạo được tăng thêm, mục tiêu đào tạo được điều chỉnh cho phù hợp hơn với yêu cầu mới của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước trong các lĩnh vực liên quan. Thực hiện phương châm đào tạo đa ngành của Trường, năm 2001, Khoa đã mở thêm ngành Cấp thoát nước. Năm 2002 Khoa được đổi tên thành: "Khoa quy hoạch và quản lý hệ thống công trình".  Năm 2006 Khoa được đổi tên thành: “Khoa Kỹ thuật tài nguyên nước”.  Năm 2007 Khoa mở thêm ngành Kỹ thuật hạ tầng và phát triển nông thôn.

 Đến nay, số lượng tuyển sinh hàng năm vào hệ chính quy ở các ngành trong Khoa là 300 sinh viên tại Hà Nội và 150 sinh viên tại Cơ sở 2 ở TP Hồ Chí Minh.  Số người học có mặt thường xuyên hiện nay ở Khoa lên tới 2800 sinh viên, trong đó đại học chính quy là 2100 sinh viên, đại học vừa học vừa  làm là 650 sinh viên, cao học và nghiên cứu sinh là 130 học viên. 

            Trong năm cuối của thập niên 80 thế kỷ trước, do yêu cầu của xã hội, Khoa được giao thêm nhiệm vụ mới là đào tạo những kỹ sư thuỷ lợi cho các tỉnh miền núi, mà hầu hết là con em đồng bào các dân tộc ở vùng sâu, vùng xa. Tới nay đã có trên 450 sinh viên hệ cử tuyển do Khoa phụ trách đào tạo đã ra trường được đưa về các tỉnh miền núi công tác.

Với tấm lòng của người thầy hết lòng vì sinh viên thân yêu, nhiều thầy giáo đã không tiếc công sức bồi dưỡng cho sinh viên để dự thi Olympic môn Thuỷ lực, nghiên cứu khoa học, thi đồ án tốt nghiệp xuất sắc. Sinh viên của Khoa đã giành được nhiều giải cao trong các cuộc thi này.

Song song với công tác giảng dạy, các thầy cô giáo trong Khoa đã tích cực thamgia các hoạt động công nghệ và nghiên cứu khoa học. Nhiều dự án thuỷ lợi lớn như: Trạm bơm tiêu Đặng Xá, Hệ thống tiêu Bắc Đông Anh, Hệ thống tưới hồ sông Rác, Hệ thống tưới hồ Gò Miếu, Trạm bơm Hữu Bị 2, Trạm bơm Yên Tôn, Trạm bơmThiệu Duy, trạm bơm Cầu Khải và hàng trăm công trình đê, kè, thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản, tái định cư... được các giáo viên trong Khoa làm chủ nhiệm và trực tiếp tham gia. Nhiều đề tài NCKH cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp cơ sở đã và đang được các thầy cô giáo trong Khoa trực tiếp làm chủ nhiệm hoặc tham gia thực hiện. Các đề tài này đã và đang đóng góp một phần  không nhỏ trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội của đất nước.

Với các thành tích đã được trong chặng đường phát triển gần năm mươi năm của Khoa, thầy và trò Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước quyết tâm  phấn đấu không ngừng, phát huy các thành tích đã đạt được của Khoa và tạo nên các thành tích mới về giảng dạy,học tập, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất để xứng đáng là một trong các khoa đầu ngành của trường Đại học Thủy lợi.